Ngàn năm văn tự
Ngày 30 tháng 08 năm 2023
Khi Việt Nam đang hứng chịu làn sóng dịch COVID lần thứ 4, lúc ấy Lợi đang tham gia huấn luyện tại D2E25, Lợi không mang theo điện thoại thông minh và không biết gì về đại dịch ở bên ngoài.
Một ngày cuối tuần, Xuân điện và kể cho Lợi nghe về những điều diễn ra tại Ấn. Mọi sự thật khủng khiếp, đến mức mà giới báo chí chỉ dùng câu "không còn đủ củi để hỏa thiêu người mất vì COVID" để diễn tả cảnh tang thương ấy.
Lúc đó, trong Lợi luôn tự hỏi, điều gì đang xảy ra tại Ấn.
Ấn Độ được biết đến và được xem như là cái nôi của tôn giáo phương Đông, nơi mà Đạo Bụt, dòng Thiền đã có mặt cách đây hơn 2.500 năm. Điều gì đã diễn ra, đáng ra tại nơi ấy mọi người phải bình an hơn, sẽ không hoảng loạn, sẽ ở nhà nhiều hơn. Điều gì đã diễn ra, điều gì đã khiến cho triệu triệu con người hướng về sông Hằng với niềm tin nước sông có thể đẩy lùi đại dịch.
***
Ngược dòng thời gian, Bụt, tức Thái tử Siddhartha đản sinh vào năm 624 TCN, đến năm 29 tuổi thì Người rời gia đình để tìm cầu học đạo, qua 6 năm tu học trong đó nhiều năm dài tu hành theo lối khổ hạnh cực đoan mà sau này Bụt nhắc lại: “Vì Ta ăn quá ít, nên này Aggivessana, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống”.
Mùng 8 tháng chạp âm lịch năm 589 TCN, ở tuổi 35, Thái tử Siddhartha đã đạt tới giác ngộ. Bốn mươi chín ngày sau ấy, Bụt chỉ dành thời gian để thiền tọa, thiền hành và ngắm nhìn trời xanh, mây trắng, nắng vàng. Trong một lần đi ngang hồ sen, Bụt thấy: Tuy vạn pháp đã được sắp đặt hoàn hảo song căn tính của mỗi người lại một khác như những ngó sen, lá sen, hoa sen của mỗi cây lại mỗi khác, vì thế dù tự tánh giải thoát đã có mặt sẵn trong mỗi người, nhưng phần nhiều khó mà thấy được chân lý ấy. 1
Đến ngày thứ 49 thì có hai thương gia người Miến Điện (Myanmar) đến xin được cúng dường bột rang và mật ong cho Bụt. Bụt ưng thuận và truyền 5 giới, quy y Nhị Bảo cho hai vị. Hai vị trở thành học trò tại gia đầu tiên của Người. Hai vị cũng xin Bụt một món đồ lưu niệm để luôn nhớ tưởng về Người. Bụt đã tặng cho hai vị tám sợi tóc của Người, cũng cho biết thêm: Sau này, lúc Ta nhập diệt rồi, ở xứ các ông sẽ thịnh hành giáo pháp diệt khổ nhiều ngàn năm. 2
Những ngày sau đó Bụt lên đường tìm về vườn Nai (Lộc Uyển) nơi năm anh em Kiều Trần Như đang tu khổ hạnh. Người đã nói bài pháp đầu tiên: Sự thật về khổ, sự thật về nguyên nhân của khổ, sự thật về chấm dứt nguyên nhân khổ và sự thật về con đường chấm dứt nguyên nhân khổ. Trong 45 năm tiếp đó, Người đi nhiều nơi, nhiều vùng miền ở lục địa Ấn Độ, giảng giải giáo pháp về đạo giải thoát cho đại chúng và nhiều bài pháp được giảng dạy để phù hợp với căn tánh của từng người.
“Đối với chân lý, Như Lai chưa từng nói lời nào” - Năm 544 TCN, Bụt nhập diệt tại rừng cây Sala gần thành phố Kushinagar. “Thế Tôn cũng là một con người như chúng ta, nhưng nhờ phát đại nguyện cứu khổ chúng sanh, rồi dũng mãnh tinh tấn tu Bát Chánh Đạo, thực tập thiền quán mà trở thành bậc Đại Giác, có đầy đủ trí huệ rộng lớn, đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, có đầy đủ phương tiện thiện xảo chỉ dạy và hướng dẫn chúng sanh hết mê được ngộ, thoát khổ được vui, biết phương pháp tu tập để tự giải thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi, vào cảnh niết-bàn an lạc thanh tịnh. Này các huynh đệ, để đền đáp ơn Thế Tôn, chúng ta hãy nương theo lời giáo huấn của Thế Tôn và noi theo gương sáng của Thế Tôn mà tinh tấn tu tập Bát Chánh Đạo, cố đạt cho kỳ được mục tiêu giải thoát.” - Trưởng lão Anuruddha ca ngợi công hạnh của Bụt. 3
Mùa hạ sau khi Bụt nhập diệt, Thầy Mahakassapa yêu cầu mở một Đại hội kết tập kinh điển. Đại hội có sự tham dự của 500 vị trưởng lão đã chứng đạt thánh quả và kéo dài trong sáu tháng.
Thầy Ananda được đại hội mời lên trùng tuyên tất cả những bài pháp thoại của Bụt. Nhờ vào sự có mặt của Thầy Mahakassapa và của đại chúng mà Thầy Ananda có dịp nói ra hết những chi tiết về thời gian, nơi chốn và cơ duyên đã đưa tới mỗi bài pháp thoại của Bụt, vì thế kinh tự về sau được viết với câu mở đầu là: Tôi đã nghe như vầy… (như thị ngã văn). Tôi ở đây tức Thầy Ananda4 và thường được tiếp theo sau bởi địa điểm, nơi mà bài giảng được đưa ra, cũng như thông tin về đại chúng có nhân duyên được lắng nghe.
Thầy Upali vốn nổi tiếng về luật học cũng đã được Đại hội mời lên ôn tụng giới luật. Về luật, Thầy Ananda có cho biết là Bụt đã từng dặn rằng sau khi Người nhập diệt, những giới luật nhỏ nhặt có thể được bỏ bớt. Đại hội hỏi Thầy xem Bụt có nói rõ là những giới luật nhỏ nhặt ấy là những giới nào không, Thầy Ananda trả lời là vì không hỏi nên Bụt đã không nói. Đại hội thảo luận rất lâu về vấn đề này và cuối cùng quyết định giữ lại tất cả mọi giới luật. 5
Thời đó, do chữ viết và giấy chưa phát triển. Nên toàn bộ kinh điển, giới luật đều chỉ được đọc tụng và được ghi nhớ trong đầu. Cũng vì để dễ nhớ mà các bộ kinh có kết cấu lặp đi, lặp lại. Do độ lớn của kinh điển và giới luật nên mỗi một nhóm các Thầy đảm trách việc ghi nhớ chuyên biệt một số chương nhất định về sau đến khi cần thì trao đổi với nhau để tránh mất mát và hiểu sai.
Tuệ giác của Bụt qua kinh và luật đã được truyền dạy như vậy trong suốt hơn 200 trăm năm. Đến khoảng năm 325 TCN, Thầy Moggaliputta Tissa dưới sự bảo trợ của vua Asoka đã triệu tập Đại hội kết tập kinh điển lần ba. Trong kỳ kết tập các phần Luận tạng được thêm vào, tạo nên Tam tạng kinh hoàn chỉnh.
Do bất đồng trong quan điểm về sự công nhận một vị A-La-Hán cùng với các mâu thuẫn trước đó trong giới luật và sự cách biệt về địa lý, Tăng đoàn được phân phái thành hai bộ là Trưởng lão bộ và Đại chúng bộ. Trưởng lão bộ chủ trương giữ nguyên toàn bộ giới luật, truyền thống của đạo Bụt như ngày Thế Tôn còn tại thế. Đại chúng bộ lại chủ trưởng cởi mở, giảm bớt giới luật đồng thời đề ra một số giới luật mới, trong chiều dài phát triển của mình, nhiều kinh điển và học thuyết mới cũng được bổ sung. Kết thúc kỳ kết tập, Thầy Mahinda (con trai vua Asoka) đã mang Tam tạng kinh điển sang Tích Lan (Sri Lanka). 6
Tại Tích Lan, vào khoảng 400 năm sau khi Bụt nhập diệt, dưới sự giúp đỡ của vua Vattagamani. Một kỳ đại hội nữa đã được triệu tập để đọc, hiệu đính và sắp xếp lại thứ tự của Tam Tạng kinh, cũng như dịch bộ kinh này sang tiếng Pali (trước đó kinh điển được truyền dạy bằng tiếng Ardhamagadhi) và lần đầu được viết lên lá bối7. Từ đó truyền thống đạo Bụt Trưởng lão bộ được truyền sang các nước Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào theo thuyền buôn của các thương gia người Ấn. 8
Vào thế kỷ thứ nhất, cũng bằng con đường thuyền buôn mà đạo Bụt được truyền sang đất Việt (trước cả khi được truyền sang đất Trung Hoa)9. Vào lúc bấy giờ, người Việt xưa đang sống những tháng ngày nô lệ Bắc thuộc, chỉ cầu mong một cuộc sống tự do, thanh bình, thoát khỏi những gông kiềm ngoại xâm. Trong hoàn cảnh đó đạo Bụt đã xuất hiện và mau chóng trở thành chỗ dựa tinh thần cho một dân tộc đang bị mất nước. Và không có gì đáng ngạc nhiên khi đạo Bụt hoà nhập vào tín ngưỡng dân gian, trở thành nơi gửi gắm niềm tin của người dân chân lấm tay bùn.
Từ khi đạo Bụt xuất hiện, văn hóa của người Việt đã chịu ảnh hưởng ít nhiều mà đến ngày nay vẫn còn in đậm trong văn hóa, tín ngưỡng, ca dao và truyện cổ tích. “Chùa làng một điện, năm gian/Hàng năm giỗ Bụt, cả làng dâng quy” cùng các câu ca dao: “Chùa làng hai mõ, bốn chuông/Có ba tượng Bụt, có ông thần già”, “Con ơi, con hãy nhớ ghi/Tháng tư giỗ Bụt thì đi lễ chùa” đã thể hiện rõ trong đời sống người Việt xưa hình tượng Bụt là một vị Buddha chứ không phải một Ông tiên10. Tích cổ Tấm Cám với bốn lần “luân hồi - hóa sinh” nhưng vẫn còn nặng nợ duyên, vướng vào tiền nghiệp cũng thể hiện phần nào những lời dạy của Bụt đã đi sâu vào nhân gian. Rồi trước những thăng trầm của lịch sử, ông Bụt vốn là Người giác ngộ đã dần được hình tượng hóa thành một Ông tiên hiền lành, râu tóc bạc phơ, sẵn lòng xuất hiện và lắng nghe tiếng tiếng khóc thương của người hiền chịu cảnh áp bức.
Gần như cùng thời điểm với kỳ đại hội ở Tích Lan, tại vùng Kasmira miền Tây Bắc Ấn Độ. Vì mục đích muốn thống nhất các khác biệt và tránh sự trà trộn như các kết tập trước nên vua Kanishka ra lệnh tuyển chọn các vị đã chứng đạo quả nghiêm ngặt, sau đó đã chọn ra 500 vị để kết tập Tam Tạng kinh, do Thầy Vasamitra chủ tọa với sự trợ giúp của Thầy Parsva. Sau khi kết tập, vua Kanishka đã ra lệnh khắc lại toàn bộ Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng lên trên những lá đồng, bảo quản tại một nơi cố định, không cho mang ra ngoài. Tuy nhiên, những di vật này về sau cũng đã bị thất lạc. 11
Về phía Bắc, con đường đưa lời dạy của Bụt ra khỏi quốc thổ Ấn Độ khó khăn hơn rất nhiều. Dãy Himalaya tạo nên một hàng rào lớn ở phía đông bắc, phía Tây thì phải vượt qua sa mạc, vì thế để đi ra được bên ngoài thì chỉ có con đường men theo núi đến Afghanistan. Từ đây đạo Bụt được truyền sang Tây Tạng, rồi đến Trung Hoa, đến Mông Cổ, Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản dọc theo con đường tơ lụa thời Hán Vũ Đế12. Dưới một cung đường nhiều khó khăn, hiểm trở, dài cả ngàn dặm, lại đi qua nhiều vùng nên sự hòa trộn với những tôn giáo bản địa là điều khó tránh khỏi, từ ấy đạo Bụt Bắc truyền đã làm nảy sinh nhiều tư tưởng mới.
Đến năm 629, Thầy Huyền Trang đã liều mình ra đi để hành hương chiêm bái quê hương Bụt trước việc nhận thấy nền kinh điển nước nhà có nhiều mâu thuẫn, rơi vào tranh cãi triền miên. Sau hơn một năm ròng trải qua nhiều gian khổ trên đường băng qua núi non và sa mạc, đối diện với đói khát và giặc cướp, Thầy đã đến Ấn Độ. Khi tới nơi, Thầy nhận ra rằng sự khác biệt giữa đạo Bụt Ấn Độ và Trung Quốc không phải chỉ ở vài chương thiếu sót của một bộ luận mà tại quê hương Bụt, kinh điển lại lớn rộng hơn nhiều so với những kinh điển đang có ở nước Thầy. Tuy vậy, nhiều nội dung chính yếu của đạo Bụt Trung Quốc và một số kinh quan trọng cũng hoàn toàn không được biết tới ở Ấn Độ. Thầy Huyền Trang ở lại Ấn Độ nhiều năm để học tập với những vị thầy danh tiếng nhất, chiêm bái các thánh tích và tham gia vào các cuộc tranh luận với những Phật tử và ngoại đạo, đến 645, Thầy trở về quê hương với hơn 600 bộ kinh, luận viết bằng tiếng Phạn. Từ đó đạo Bụt tại Trung Hoa được phát triển rực rỡ và lớn mạnh. 13
Đến năm 845 dưới thời trị vị của Đường Vũ Tông, đạo Bụt bị bức hại, giáo hội bị triệt hạ, tăng ni bị buộc phải hoàn tục. Từ thời điểm đó đến nay, đạo Bụt Trung Quốc chưa bao giờ trở lại được thời đại huy hoàng như trước.
Tại Ấn Độ, nửa sau thế kỷ thứ 7 CN, Ấn Độ giáo đã len lỏi trong các hệ thống học thuyết, kể cả giáo lý đạo Bụt để mà phục hưng trở lại, từ đó tạo ra sự cạnh tranh mãnh liệt đối với đạo Bụt đương thời. Lúc bấy giờ, đạo Bụt theo truyền thống Đại thừa chỉ giới hạn trong phạm vi “kinh viện triết học”. Do vậy, đã tự tách mình ra khỏi phần đông quần chúng trong khi những hiện tượng siêu hình, thần bí có ở khắp nơi trên đất Ấn. Vì thế, để thích ứng với tình thế mới, đạo Bụt theo truyền thống Đại thừa nhanh chóng và tích cực tiếp cận với Ấn Độ giáo và Bà-la-môn giáo. Ban đầu khi tiếp xúc, phía đạo Bụt có những phản ứng khá kịch liệt, có lúc cật lực phê phán những quan niệm nghi chấp về tế tự, cầu phúc, trừ họa và mật chú. Tuy nhiên vẫn xúc tiến việc hợp lý hóa hoặc đạo Bụt hóa theo tinh thần tùy duyên, cuối cùng Mật Tông đã được hình thành, tạo nên một hệ thống tương đối độc lập trong đạo Bụt Đại Thừa. 14
Vào cuối thế kỉ thứ 8, Ấn Độ lại rơi vào chiến tranh triền miên với triều đại Hồi giáo Abbasad. Họ đã cướp bóc các tài liệu, phá hủy công trình, kiến trúc nhà Bụt - trong đó có trung tâm Phật học Valabhi . Đây cũng là bước đầu trong việc hủy hoại đạo Bụt tại Ấn Độ, Afghanistan và Trung Đông. Đến năm 1178, quân đội Hồi giáo của Muhammad Ghuri đã tiến hành nhiều cuộc chinh phạt Ấn Độ. Hầu hết các công trình đạo Bụt đã bị tiêu hủy. Vào năm 1197, trung tâm đạo Bụt Nalanda bị hủy diệt hoàn toàn, kho sách khổng lồ phải mất ba tháng mới cháy hết, các vị tu sĩ cũng buộc phải rời đi15. Vikramasila cũng bị chiếm năm 1203, chấm dứt hoàn toàn một thời đại lịch sử của đạo Bụt tại Ấn Độ.
Trong khoảng thời gian này, thì tại Việt Nam, đạo Bụt tại lại được hưng thịnh hơn bao giờ hết. Từ năm 1009, Điện tiền Chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên ngôi, Nhà Lý ra đời đưa đạo Bụt lên hàng quốc đạo, nhiều triều vua nối tiếp nhau đã thực hiện rất nhiều Phật sự, không chỉ góp phần phát triển việc tu học mà còn qua đó phát triển một nền văn hóa riêng của Đại Việt khác biệt với Trung Hoa.
Năm 1225, Nhà Trần lên nắm quyền tiếp tục kế thừa và phát triển thêm nền tảng xã hội đã có từ thời Lý trong đó có đạo Phật. Nét nổi bật nhất ở thời này là sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do người Việt sáng lập mà tổ sư chính là vua Trần Nhân Tông, Pháp danh Trúc Lâm đại sĩ.
Đạo Bụt hưng thịnh vào thời Lý - Trần song dần suy yếu vào các triều đại sau và cuối cùng phải đối mặt với “100 năm nhiều biến cố”.
Khởi đầu là việc nước Pháp xâm lược nước ta, chính quyền thực dân đã ra sức ủng hộ Thiên Chúa Giáo để tôn giáo này được lan rộng khắp nơi, nên đã thi hành biện pháp phá hủy đạo Bụt bằng nhiều hình thức khác nhau. Số chùa chiền bị phá đi rất nhiều, mà không ít trong số đó sau này trở thành cơ sở của Thiên Chúa giáo.
Đến thập niên 1960, chính phủ Ngô Đình Diệm ưu đãi Thiên Chúa giáo, ra nhiều chính sách chèn ép đạo Bụt, từ đó Phật tử miền Nam đã xuống đường đông đảo để phản đối ở Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn. Tại Huế, Lực lượng quân đội và an ninh VNCH đã xả súng vào ngày 8 tháng 5 năm 1963 khiến 8 Phật tử không vũ trang tử vong16. Đỉnh điểm là sự kiện Thầy Thích Quảng Đức tự thiêu năm 1963 để phản đối sự kì thị này. Tiếp đó các Thầy Nguyên Hương, Thầy Thanh Tuệ, Ni sư Diệu Quang, Thầy Tiêu Diêu cũng đã tự thiêu và nữ sinh Mai Tuyết An đến chùa Xá Lợi chặt bàn tay trái để phản đối chính quyền17. Ngọn lửa ấy vẫn tiếp tục cháy sáng đến năm 1967: “Xin đem thân làm đuốc, xin soi sáng vô minh. Xin tình người thức tỉnh, xin Việt Nam hòa bình” là nguyện ước của chị Nhất Chi Mai trước khi tự thêu tại chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn)18 ngày 16/05.
Cùng thời điểm, tại miền Bắc cũng chẳng khá hơn: "Hầu hết chùa, nhà thờ ở miền Bắc mà tôi đã đến thăm đều rêu phong tàn tạ. Các nhà sư (sư ông, sư bà) lẩm cẩm sợ sệt, một báo cáo cụ, hai báo cáo cụ. Các linh mục, giám mục đóng kín cửa lạc hậu với thời cuộc. Phật tử gần như không còn gì nữa, chỉ ẩn hiện dưới dạng mê tín, cúng bái linh tinh và rất e dè trước khách lạ. Tín đồ Thiên Chúa giáo thì khổ cực, hằn sâu trong mắt họ những nét u uất thâm nghiêm, nhưng rực lửa và sẵn sàng bốc cháy khi có mồi.” - Ông Đỗ Trung Hiếu, Cán bộ Ban Tôn giáo cho biết. 19
Từ sau năm 1976, chính quyền nhà nước CHXHCN Việt Nam tiếp tục thực hiện nhiều chính sách từ thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, các hoạt động tín ngưỡng của đạo Bụt cũng như nhiều tôn giáo khác đều phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước.
Mãi đến những năm gần đây, đạo Phật và các tôn giáo khác đã được tự do phát triển hơn trước, thể hiện qua nhiều chùa, thiền viện, tự viện được trùng tu hoặc xây mới, nhiều sự kiện được tổ chức, cũng như số lượng khá lớn ấn phẩm về đạo Phật được xuất bản.
Đạo Bụt kể từ khi truyền vào Việt Nam đến nay, trải hơn 2000 năm đã dần dần đi vào tâm thức, ảnh hưởng nhiều đến cách nghĩ, cách sống của nhiều người Việt. Khi đạo Bụt được truyền vào Việt Nam, các vị thiền sư người Việt đã bản địa hóa, khiến đạo Bụt hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam.
***
Ngàn năm qua, nền Phật giáo Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ nói riêng và nền Phật giáo thế giới nói chung đã có rất nhiều thăng trầm. Lúc hưng thịnh: chùa chiền, tượng Bụt ở khắp nơi; kinh điển được kết tập, biên dịch; được các bậc quân vương kính trọng, bảo hộ. Lúc suy tàn: chùa chiền, kinh sách bị đốt phá; các vị tu sĩ bị đuổi, bị giết, bị cấm đoán, bị bắt phải hoàn tục. Song các bậc Minh sư, các vị Thầy lớn là không thời nào là không có mặt. Các Ngài, các Thầy vẫn ngày đêm tu học, làm mọi cách để gìn giữ bánh xe pháp. Công trạng của Ngài, các Thầy nếu được viết hết ra cũng chẳng hề thua kém kinh tạng.
Dù đã nhiều lần tìm đọc lược sử phần giáo, nhưng lần này, trong lòng Lợi vẫn dâng lên lòng biết ơn khôn tả. Thấy rằng kinh điển và giáo pháp ngày nay mà mình được thừa hưởng đâu phải dễ gì mà có được, dù thế nhưng ngày đêm vẫn lười nhác phụ lòng Bụt, phụ lòng các Thầy.
Đạo Bụt đã đi qua nhiều nơi, nhưng nhờ khế cơ nên dù trong hoàn cảnh và quốc độ nào thì sự thể hiện, truyền đạt của đạo cũng luôn luôn đa dạng. Tùy nghi phương tiện theo từng vùng miền để truyền bá giáo lý nhưng không làm mất đi bản sắc của đạo Bụt là phù hợp với mọi tầng lớp và căn cơ đại chúng.
“Tên gọi tuy có khác nhưng giáo lý vẫn là một” - đó là khế lý, dù một mà không phải một, nên có lắm tên như đạo Bụt Việt Nam, đạo Bụt Tây Tạng, đạo Bụt Trung Quốc... tất cả đều có tên chung là đạo Bụt, bảo rằng giống cũng không được nhưng bảo rằng không giống thì lại sai. Đây là bản địa hóa, hay sắc thái đạo Bụt của từng vùng.
Nhờ vào đấy, nên dù có bị tận diệt ở nơi này, đạo Bụt vẫn còn có mặt ở nhiều nơi khác. Nhờ vào thái độ cởi mở, từ bi và bao dung của đạo Bụt ngay trong những thế kỷ đầu đã giúp hệ thống văn tự vẫn được lưu truyền sau nhiều biến cố dù mức độ tin cậy đã không còn được vẹn nguyên như xưa. Nên mỗi người, mỗi học trò của Bụt phải tự đốt đuốc lên để mà đi tìm về chân lý, về nguồn cội bằng cách nương vào Tam bảo: Bụt, Pháp, Tăng mà trên hết là tìm ngay trong chính mình.
Đó là thách thức cho mỗi người học trò của Bụt trong thời đại mới. Những học trò của Người sẽ vừa phải tìm tòi tu học vượt thắng những mâu thuẫn, hỗn loạn trong nền văn tự rộng lớn của Đạo vừa phải tiếp bước hoằng dương Giáo pháp dựa vào những phương tiện của thời đại.
Đã 2567 năm trôi qua kể từ ngày Bụt nói về 2500 năm cho ba thời kỳ Giáo pháp20: 500 năm chánh pháp, 1000 năm tượng pháp và 1000 năm mạt pháp. Lời của Bụt về sự mất đi của giáo pháp là mất đi ở bề mặt hình tướng, vạn pháp vốn đã có sẵn, vốn đã vô sinh bất diệt. Trước khi Bụt có, pháp đã có, sau khi Bụt nhập diệt pháp vẫn mãi còn.
Bụt đã làm công việc của người, đã đưa đường chỉ lối cho chúng ta thấy con đường đi về phía của tình thương và sự thấy biết chân như. Chư Thầy đã hết sức mình để hơn “tám vạn bốn ngàn lời dạy” đến được với đại chúng. Việc bây giờ của chúng học trò là phải vun bồi cho mình niềm tin vào nơi Bụt, Thầy và Pháp, nương vào văn tự để học nhưng lại buông bỏ văn tự để thành.
Bám lấy vào hình tướng, thật không thấy ra chân như thì cho dù đứng ngay trên đất Bụt, lòng vẫn hoang mang vô định và vẫn hướng về sông Hằng với nỗi sợ hãi cái chết cùng niềm tin sai lầm nơi tự tâm.
THAM KHẢO
^1. Thích Nhất Hạnh. 1987. Chương 21: Hồ sen. Đường xưa mây trắng. NXB Phương Nam.
^3.Thích-ca Mâu-ni. 2023. Wikipedia Bách khoa toàn thư mở.[↗]
^4. Thích Chơn Thiện. 2010. Chương tám: Các đại đệ tử của Đức Phật. Tăng già thời Đức Phật. Thư viện Hoa sen.[↗]
^9. Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh). 1986 .Chương 01: Trung tâm Phật Giáo Luy Lâu. Việt Nam Phật giáo sử luận. Langmai.org[↗]
^10. La Mai Thi Gia. 2009. Hình tượng Bụt trong tục ngữ - ca dao Việt Nam. Khoa văn học - Trường Đại học KHXH và NV - Đại học Quốc gia TP.HCM[↗]
^11. Xem chú thích 8.
^13. Huyền Trang. 2023. Wikipedia Bách khoa toàn thư mở.[↗]
^16.Vụ xả súng lễ Phật Đản ở Huế. 2023. Wikipedia Bách khoa toàn thư mở.[↗]
^17. Biến cố Phật giáo 1963. 2023. Wikipedia Bách khoa toàn thư mở.[↗]
^18. Trần Thị Đông Thi. 2017. Ngọn lửa hòa bình Nhất Chi Mai năm 1967. Cổng thông tin Phật giáo.[↗]
^19. Đỗ Trung Hiếu. 1994. Thống nhất Phật giáo. Thư viện Hoa sen.[↗]
^20. Thích Phổ Huân. 2015. Suy tư về Phật pháp qua ba thời kỳ: chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Thư viện Hoa sen.[↗]

Nhận xét
Đăng nhận xét
BIẾT ƠN BẠN