Thiền truyện
Tựa
Hồi mới biết đến đạo Bụt, An đã học đạo như học khoa học, mang ra cân, đo, đong, đếm đủ kiểu. Sau này, khi pháp đến mới chợt nhận ra. Kiến thức chỉ là kiến thức, còn tuệ giác không phải kiến thức. Tuệ giác chỉ đưa đến tự sự thực tập, thực chứng những kiến thức ấy trên thân tâm mình.
Rồi quay về và học lại đạo Bụt, An bị ấn tượng bởi các giai thoại thiền. Bởi chúng gỡ được sự bám chấp vào câu từ, cân đo đong đếm, đúc kết… Nhiều câu chuyện được viết lại chỉ vỏn vẹn một vài câu nhưng lại ẩn chứa những tuệ giác sâu sắc nhất của Bụt. Mà khi đọc qua, dù có muốn đúc kết cũng chẳng phải biết đúc và kết như nào. Từ ấy sinh ra sự “nghi tình” phải đọc đi, đọc lại, ngẫm đi, ngẫm lại… có khi thấy được gì đó, có khi không.
Dưới đây là một số giai thoại và thiền truyện mà An được đọc và ấn tượng nhất.
Ngài Mahakassapa
Đức Thế Tôn trên Hội Linh Sơn, đưa hoa ra dạy chúng, đại chúng đều im lặng, chỉ có Ca-diếp chuyển mặt mỉm cười. Thế Tôn bảo rằng: Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, giao cho Ma-ha Ca-diếp.
Ngài Ananda
Một hôm Ngài hỏi Tổ Ca-Diếp: Khi Thế Tôn phú chúc và truyền y cho sư huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng ?
Tổ Ca-Diếp liền gọi: A-Nan.
Ngài ứng thin: Dạ.
Tổ Ca-Diếp bảo: Cây cột phướn trước chùa ngã.
Ngài liền tỏ ngộ.
Ngài Angulimala
Lúc ấy, Đức Phật cũng đang đi tới, và Angulimala liền định thần quyết giết chết người du sĩ kia. Y liền vung dao bắt đầu đi theo Đức thế Tôn. Nhưng Đức Phật vẫn di chuyển trước mặt y. Angulimala không thể đuổi kịp được Ngài. Cuối cùng, y quát lên:
- Này, khất sĩ kia, hãy đứng lại! Đứng lại!
Đức Phật trả lời:
- Ta đã đứng lại từ lâu, chính ngươi mới là người chưa đứng lại.
Thiền sư Huệ Khả
Bồ-đề-đạt-ma ngồi nhìn vách tường. Sư dầm tuyết, rút dao tự chặt cánh tay, nói:
- Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con
- Đưa tâm cho ta, ta sẽ an cho. Sư Đạt-ma đáp.
- Con không thấy tâm đâu cả.
- Ta đã an tâm cho con.
Sư ngay đó liền đại ngộ.
Thiền sư Triệu-Châu
Một Thầy để hỏi Thiền sư Triệu Châu
Con mới vào chùa, xin Ngài chỉ dạy.
- Ăn cháo chưa? – Sư hỏi.
- Ăn cháo rồi.
Sư nói :
- Rửa bát đi.
Vừa chợt nghe, Thầy liền tỏ ngộ.
Thiền sư Huệ Năng
1. Khi đến chùa Pháp Tánh tại Quảng Châu và gặp Pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn. Lúc ấy có luồng gió thổi động lá phướn. Một vị tăng nói gió động, một vị tăng khác nói phướn động, cả hai tranh cãi không ngừng. Huệ Năng bước ra nói:
- Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà là tâm các ông động.
Cả chúng đều ngạc nhiên. Pháp sư mời Huệ Năng lên ghế ngồi và sau cuộc đàm đạo, Pháp sư nhận ra được Lục Tổ, xuống tóc cho Tổ và thờ Tổ làm thầy. Tới lúc đó Tổ mới chính thức thọ giới. Pháp sư hỏi Tổ là Ngũ Tổ Huỳnh Mai truyền thọ như thế nào. Tổ trả lời:
- Ngài không có truyền thọ gì, chỉ cần Kiến tánh, chẳng cần Thiền định để Giải thoát.
2. Một hôm Lục-Tổ Huệ-Năng hỏi đại chúng:
- Ta có một vật không đầu không đuôi, không danh, không tự, không lưng không mặt, các ngươi có biết vật chi chăng?
Thần-Hội bước ra bạch :
- Vật ấy là nguồn gốc của chư Phật, là Phật tánh của Thần-Hội.
Tổ nói :
- Ta đã nói vật không danh không tự, mà ngươi laị gọi là nguồn gốc Phật tánh. Ngươi dù đi tới đâu, có nắm tranh che đầu, cũng chỉ thành một tông đồ trí giải mà thôi.
3. Giữa chốn núi non, tu sĩ Huệ-Minh thưa thỉnh
- Xin Hành-giả thuyết pháp cho tôi nghe.
Huệ-Năng nói :
- Ngươi đã vì pháp đến đây thì phải dẹp hết các duyên, chớ sanh một niệm nào, ta sẽ thuyết cho ngươi nghe.
Tu sĩ Huệ-Minh tịnh tâm giây lâu, Huệ Năng liền nói :
- Đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác, chính trong lúc đó, thế nào là bổn lai diện mục của Minh thượng toạ?
Tu-sĩ Huệ-Minh chợt nghe, liền đại ngộ.
Thiền sư Hakuin
Cạnh thiền thất của Thầy có một cô gái xinh đẹp mà bố mẹ là chủ một cửa hàng thực phẩm. Bỗng dưng một hôm bố mẹ cô khám phá ra rằng cô đang mang bầu. Cô không chịu khai ai là tác giả của cái bào thai, nhưng sau bao lần cật vấn cô bảo là của Thiền sư Hakuin.
“Cha mẹ cô điên tiết lên đến đối chất với Hakuin. Ngài chỉ nói:
- Thật vậy sao?”
Ngay khi đứa bé vừa chào đời, nó được giao cho Hakuin, lúc bấy giờ danh dự của ngài đã bị tổn hại nghiêm trọng, nhưng ngài vẫn thản nhiên. Ngài tận tình chăm sóc đứa bé và thường đi sang hàng xóm để xin sữa và các thức cần thiết khác để nuôi trẻ sơ sinh.
Một năm sau, cô gái xinh đẹp kia không chịu đựng được lương tâm cắn rứt, bèn thú nhận với bố mẹ rằng người cha thật sự của đứa bé là anh hàng cá trẻ tuổi. Bố mẹ cô gái vội vã đến tạ lỗi với thiền sư, mong ngài thứ tội và xin nhận lại đứa bé.
“Hakuin chấp thuận và khi trao đứa bé lại ngài chỉ nói:
- Thật vậy sao?”
Thiền sư Triệu Châu
1. “Có vị học tăng hỏi:
- Con chó có Phật tánh không?
Sư không cần suy nghĩ đáp:
- Không.
Học tăng nghe xong bất mãn, nói:
- Trên từ chư Phật, dưới đến loài côn trùng đều có Phật tánh, vì sao con chó không có Phật tánh?
Sư giải thích:
- Vì nghiệp thức che đậy.”
2. ”Lại có học tăng hỏi:
- Con chó có Phật tánh không?
Sư đáp:
- Có.
Học tăng không bằng lòng cách trả lời như thế, cho nên phản đối:
- Đã có Phật tánh, tại sao chui vào đãy da hôi thối?
Sư giải thích:
- Vì biết mà cố phạm.”
Thiền sư Tăng Xán
Niên hiệu Thiên Bình, năm thứ hai đời Bắc Tề, Sư lúc đó vốn là cư sĩ, tuổi khoảng 40, người đầy bệnh tật, mụn nhọt. Nghe danh Tổ Huệ Khả giáo hóa pháp môn Thiền Tông, sư ngưỡng mộ liền đến yết kiến và được đại ngộ.
“Cư sĩ đến đỉnh lễ rồi hỏi:
- Đệ tử mình đầy tật bịnh, thỉnh Hòa thượng sám tội cho.
Tổ bảo:
- Đem tội ra đây ta sám cho.
- Con kiếm tội mãi mà chẳng thấy được.
- Ta đã sám hối cho ông xong rồi đó, ông nên nương theo Phật, Pháp, Tăng mà an trụ.
Cư sĩ bạch:
- Nay gặp Hòa thượng thì biết thế nào là tăng rồi nhưng xin hỏi cái gì gọi là Phật và pháp?
Tổ đáp:
- Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp. Pháp, Phật không hai, Tăng bảo cũng vậy.
- Nay mới biết tánh tội chẳng ở trong, không ở ngoài, không ở giữa, cũng như tâm ấy, Phật và pháp không hai vậy.
Tổ biết đã ngộ, rất coi trọng, bèn cho cạo tóc xuất gia, nói:
- Ông là bảo vật cửa Phật của ta, nên lấy tên là Tăng Xán.”
Thiền sư Đạo Tín
Sư xuất gia và đến thời Tùy, niên hiệu Khai Hoàng năm thứ 12, Nhâm Tý, lúc mới 14 tuổi.
“Lễ Tổ Tăng Xán nói:
- Nguyện Hòa thượng từ bi ban cho con pháp môn cởi mở.
Tổ hỏi:
- Ai trói buộc ông?.
- Chẳng ai buộc cả.
- Vậy cớ gì phải cởi mở.”
Sư nghe vậy liền đại ngộ.
Thiền sư Hoằng Nhẫn
Ngày nọ, Tứ Tổ Đạo Tín đến huyện Hoàng Mai, trên đường gặp sư, khi ấy sư còn là đứa trẻ 7 tuổi. Thấy sư thanh tú, kỳ lạ, khác hẳn những trẻ bình thường khác.
Tổ hỏi: Con tính (họ) gì?
Sư đáp: Tính thì có, nhưng không phải tính thường.
Tổ hỏi: Là tính gì?
Sư đáp: Là tính Phật.
Tổ hỏi: Con không có tính (họ) à?
Sư đáp: Tính vốn không, nên không có.
Tổ biết ngay đây là pháp khí. Ngài bảo thị giả đến nhà sư , xin cho sư được phép xuất gia. Người mẹ cho là vốn có duyên xưa, mặt không lộ vẻ từ chối, liền cho con xuất gia theo Tổ làm đệ tử cho đến khi được phó Pháp, truyền Y.
Thiền sư Lâm Tế
Sư Lâm tế ba lần đến hỏi Pháp nơi Sư Hoàng Bá, ba lần bị ăn gậy như bão táp nên thất vọng, muốn đi học nơi khác.
“Đại Ngu hỏi:
- Ở chỗ nào đến?
Sư thưa:
- Ở Hoàng Bá đến.
Đại Ngu hỏi:
- Hoàng Bá dạy gì?
Sư thưa:
- Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba phen đều bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?
Đại Ngu cười lớn nói:
- Hoàng Bá vì ngươi nói chỗ tột cùng, lại đến hỏi lỗi hay không lỗi!
Ngay câu nói này, sư thông suốt, thưa:
- Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có nhiều.
Đại Ngu nắm lại:
- Đồ quỷ đái dưới sàng, vừa nói lỗi không lỗi bây giờ lại chê Phật pháp Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo gì nói mau!
Sư liền cho Đại Ngu ba thoi vào hông.
Đại Ngu buông sư ra bảo:
- Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng liên hệ gì với ta!
Từ giã Đại Ngu, sư về lại nơi Sư Hoàng Bá.
Hoàng Bá thấy liền bảo:
- Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ.
Sư thưa:
- Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha nên nhân sự đã xong.
Nghe sư thuật lại sự việc ở Đại Ngu, Hoàng Bá bảo:
- Lão Đại Ngu đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn gậy.
Sư liền nói:
- Đợi làm gì, cho ăn ngay bây giờ.
Và bước đến sau lưng Hoàng Bá tát một cái. Hoàng Bá cười to, bảo:
- Có một gã điên dám vuốt râu cọp.”
Sau khi ngộ đại ý, sư vẫn tiếp tục ở lại với Hoàng Bá và những cuộc pháp chiến giữa sư và Hoàng Bá vẫn còn vang vọng đến ngày nay.
Thiền sư Liễu Quán
“Thiền sư Tử Dung hỏi:
- Tổ Tổ truyền nhau, Phật Phật truyền nhau; chẳng hay truyền trao nhau cái gì?
Sư đáp:
- Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng/Quy mao phủ phất trọng tam cân.
(Búp măng trên đá dài một trượng/Cây chổi lông rùa nặng ba cân)
Thiền sư đọc:
- Cao cao sơn thượng hành thuyền/Thâm thâm hải để tẩu mã.
(Chèo thuyền trên núi cao/Phi ngựa dưới đáy bể)
Rồi hỏi: Là sao?
Sư đáp:
- Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống/Một huyền cầm tử tận nhật đàn.
(Trâu đất gãy sừng rống suốt đêm/Đàn tranh đứt dây gẩy trọn ngày)”
Thấy Sư Liễu quán biện luận lanh lẹ, lâm cơ ứng biến rất phù hợp, nên Thiền sư Tử Dung tỏ ý vui mừng và ấn chứng.
Thiền sư Nhất Hạnh
Cách đây chừng 25, 26 năm trong một chuyến đi Anh, tôi (Thầy Nhất Hạnh) có đi thăm viện bảo tàng. Tôi bước vào với một cô bé 5 - 6 tuổi người Anh. Tới một phòng kia chúng tôi thấy một xác người hóa thạch chứa trong tủ kính. Con người đó chết cách đây năm ngàn năm, mà những sợi tóc, những móng tay, những nếp nhăn ở trên da vẫn còn được giữ nguyên vẹn. Đó là xác một người đàn ông nằm khum khum, ở đấy ngày xưa họ chôn như vậy. Sức nóng sa mạc đã bảo tồn thân thể đó, và thời gian đã làm nó hóa đá. Tôi đứng nhìn rất lâu, duy trì thiền quán của mình, và quên mất cô bé đang đứng bên. Cô bé lúc đó đang run sợ, đang kinh hoàng mà tôi không biết. Lúc cô bé cầm áo tôi kéo giật, tôi mới tỉnh.
“Với cặp mắt hoảng hốt, nó hỏi:
- Will it happen to me? (Con sẽ bị như vậy hay không?).
Đối với một em bé, mình phải trấn an nó trước đã, nên tôi lắc đầu:
- Đâu có, con đâu có thể bị như vậy, con không bao giờ bị như vậy.”
Nói xong tôi biết rằng mình đã nói dối. Nhưng nếu nói sự thật sinh lão bệnh tử cho một em bé 5 - 6 tuổi nghe thì tàn nhẫn quá.
Phần 2. Thiền truyện
Nhà sư cõng cô gái
Một lão hòa thượng và một tiểu hòa thượng cùng đi trên đường.
Khi tới bờ sông, một cô gái muốn qua sông, không chút đắn đo, lão hòa thượng đã cõng cô gái qua sông, cô gái sau khi cảm ơn thì đi mất.
Tiểu hòa thượng trong lòng cứ thắc mắc: Sư phụ sao có thể cõng một cô gái qua sông như thế?. Nhưng cậu ta không dám hỏi.
Cứ thế đi mãi được 20 dặm, cậu ta thực sự không kìm được đành hỏi sư phụ:
- Chúng ta là người xuất gia, sao thầy có thể cõng một cô gái qua sông?
Sư phụ điềm đạm nói:
- Ta cõng cô gái qua sông thì đã đặt cô ta xuống, sao con còn chưa đặt xuống?.
Chú tiểu đọc sách
Chú tiểu nhỏ hỏi sư phụ của mình:
- Tại sao con phải đọc sách trong khi con chẳng nhớ gì cả?.
Sư phụ chú chỉ tay vào một giỏ dùng để dựng than rồi sai chú ra bờ suối để lấy nước bằng cái giỏ ấy. Chú phải đi mấy lượt nhưng chẳng lấy được chút nước nào, bởi lẽ đây là một cái giỏ được đan bằng tre, nứa thì làm sao giữ được nước trong đó. Chú than thở với sư phụ.
Lúc này người mới từ tốn dạy bảo:
- Con nhìn lại đi, có phải chiếc giỏ đã sạch hơn rất nhiều!
Cây tùng trước sân
1. Sư chú đến chùa tu học đã được ba năm nhưng Sư ông chưa dạy dạy gì về “siêu hình” cho Sư chú, chỉ dạy cách ăn uống, đi đứng sao cho có chánh niệm, có uy nghi.
Một hôm Sư chú đến hỏi Sư ông:
- Con đến đây đã lâu, sao mãi Thầy chưa dạy cho con về chánh pháp.
Sư ông thương đáp:
- Con có thấy cây tùng trước sân không.
2. Câu chuyện trên được lưu truyền đi khắp nơi và trở nên nổi tiếng.
Nhiều năm sau, có một Thầy ở xa, nghe được câu chuyện trên, lấy làm thắc mắc. Thầy lặn lội đi xuống miền Nam để tìm Sư ông để hỏi rõ. Đến nơi Thầy mới biết Sư ông đã viên tịch rồi.
Không gặp được Sư ông, Thầy tìm đến học trò lớn nhất của Sư ông để hỏi:
- Năm xưa, Sư ông nói câu ấy, nghĩa là như nào?
Học trò Sư ông nhìn Thầy một lúc lâu rồi đáp:
- Hồi xưa Thầy tui có nói thế bao giờ.
Tam bảo
Một người vào hỏi:
- Bạch Hòa thượng, Phật là gì?
Vị Hòa thượng nghĩ thầm trong dạ: Xưa giờ mình tu ở đây, có học Phật pháp gì đâu mà biết. Thế nên Thầy ngồi im thinh thích.
Người kia thấy vậy, lạy xuống một lạy:
- Bạch Hòa thượng, con đã hiểu ý Thầy, Phật là người không một chút giao động. Hòa thượng giải đáp thật hay. Xin phép cho con hỏi câu nữa, Pháp là gì ạ?
Vị Hòa thượng chếnh choáng, nghĩ: Ổng hỏi Phật mình đã không biết, giờ hỏi đến Pháp nữa, phải tìm cái cửa nào để đi ra thôi.
Hòa thượng đang quanh nhìn xung quanh, thì người kia lại lạy xuống một lạy:
- Dạ con hiểu rồi, ý của Hòa thượng là Pháp ở mọi nơi. Dạ, Hòa thượng khai thị cho con thật hay. Xin khai thị cho con câu cuối. Tăng là gì ạ? Bạch hòa thượng.
Vị Hòa thượng nghe xong, ngã cái rầm.
- Dạ con hiểu rồi. Tăng là người buông bỏ tất cả.
Người kia lạy xuống một lạy rồi cúi lui.
Người mẹ
Tại thành Xá Vệ, thời Bụt còn tại thế, có người mẹ tên là Kisa.
Khi lớn lên, cô có chồng như bao người con gái khác; nhưng bị mọi người bên chồng khinh khi, coi thường, vì cô thuộc giai cấp hạ liệt, thấp kém, ở đợ, làm mướn.
Từ khi đứa con trai đầu lòng ra đời, cuộc sống của cô bắt đầu thay đổi, cô được mọi người bên chồng đối xử tốt đẹp và quý mến hơn. Nhưng bất hạnh thay, chẳng được bao lâu, đứa con của cô qua đời vì cơn bạo bệnh.
Đứa con chết làm người con gái ấy gần như điên loạn; dù đau khổ đến tột cùng, cô vẫn hy vọng sẽ có người cứu được đứa con của mình sống lại, nên ôm xác con đi tìm thầy cứu chữa.
Hay được tin Đức Thế Tôn đang ở trong vùng, người mẹ đó tìm đến và cầu xin Người cứu chữa cho con trai mình.
Vì quá thương người mẹ ấy, Bụt đã đáp lại:
- Này thiếu nữ, con hãy đến nhà nào chưa từng có người chết, xin về đây cho ta vài hạt cải, ta sẽ cứu sống đứa bé cho con.
Tin chắc rằng con mình sẽ được cứu sống nếu có được vài hạt cải trong một gia đình không có người chết, người mẹ liền phấn khởi ra đi, trong lòng mừng thầm vô hạn.
Rồi người mẹ ấy thất tha, thất thểu đi hết làng trên xóm dưới, từ làng này qua xóm nọ, cô đi khắp hang cùng hốc hẻm, nhưng không tìm ra một gia đình nào có hạt cả mà không có người chết như yêu cầu của Thế Tôn.
Quá thất vọng và mệt mỏi, cô ngã quỵ bên lề đường, trên tay vẫn còn ôm chặt xác con của mình. Thế là bao nhiêu hy vọng không còn nữa. Cô nhìn con với lòng trìu mến, dù xác đứa bé đã cứng đờ.
Trong sự đau khổ tột cùng, người mẹ đã nhận ra, có sinh là có chết, ai rồi cũng phải lần lượt như vậy, chỉ đến sớm hay muộn mà thôi.
Người mẹ mang con mình đi chôn cất theo tục lệ, rồi mới đến bạch với Bụt. Lúc này Người mới thương dạy về sinh - tử.
Tiền thân Bụt
Bụt kể:
- Ta nhớ khi ta phải đọa vào địa ngục Hỏa xa, ta cùng với hai người bạn phải kéo một cái xe lửa, bốc cháy ngùn ngụt, quỷ đầu trâu tên là A Bàng, ngồi ở trên xe, mắm miệng, nghiến răng, trợn mắt, miệng, mắt, tai, mũi đều phun ra khói lửa, thân thể to lớn, tay chân gân guốc, hình sắc tía đen, tay cầm gậy sắt, đánh đập luôn luôn, mặc dầu ta bị đánh đập đau đớn, nhưng vẫn cố sức kéo. Lúc đó hai người bạn của ta, vì hơi sức yếu đuối, kéo không nổi, nên bị quỷ đầu trâu A Bàng, lấy đinh ba bằng sắt, đâm vào bụng, lấy gậy bằng sắt đập vào lưng, máu phun ra như suối chảy, đau đớn khó nhẫn, những người ấy cất tiếng kêu gào rất thảm thiết, người thì kêu cha mẹ, người thì kêu vợ con. Nhưng dầu có kêu gào như thế, cũng chẳng ích lợi gì đối với mình.
Lúc ấy, ta thấy những người bạn của ta chịu sự khổ não như vậy, lòng ta sinh ra thương xót. Nhân lòng sinh tưởng thương xót ấy, cho nên ta phát tâm Bồ Đề, vì những người chịu tội ấy, mà khuyên bảo quỷ đầu trâu A Bàng rằng: Những người phải chịu tội đây, thực đáng thương xót, xin ông hãy rủ lòng nới tay, đừng nên đánh đập họ tội nghiệp. Lúc ấy quỷ đầu trâu A Bàng, nghe ta nói như thế, lòng sinh giận tức, dùng đinh ba bằng sắt đâm vào cổ ta, chết liền tại chỗ. Nhưng kỳ lạ thay, ngay lúc đó ta liền được thoát khỏi cái tội trăm kiếp phải đọa lạc ở nơi địa ngục Hỏa xa.
Tạm kết, ngày 14 tháng 11 năm 2023
Chú thích ảnh : Thư Pháp Lão Trọc, Pinterest.
Nhận xét
Đăng nhận xét
BIẾT ƠN BẠN