Triết và Y

 Trước khi vào bài, An xin được chia sẻ: Triết lý y học không phải là y học, y tế hay ngành y. Triết lý y học thuộc về ngành triết học về lĩnh vực y, nơi nhận thức luận tìm câu trả lời cho câu hỏi: Bản chất của “y” là gì?!.

Và vì An không có chuyên môn trong cả hai ngành Triết và Y - vốn đều nhức nhức cái đầu như nhau - nên bài viết chỉnh thuần là những gì An hiểu và viết lại. Như thường, An sẽ cố gắng đảm bảo tính chính xác, khách quan, dẫn nguồn và đánh dấu (*) đối với những đoạn là quan điểm cá nhân.

Xin được biết ơn và thương mời bạn đọc bài vui vui vẻ vẻ (hoặc là nhức nhức cái đầu).

---

Ông bà dạy: “Sức khỏe là vàng”, Bụt cũng thương thuyết: “Vô bệnh lợi tối thượng”. 

Hay như “khi chúng ta có sức khoẻ, chúng ta có rất nhiều mơ ước. Nhưng khi không có sức khoẻ chúng ta chỉ có một ước mơ”.

Tất cả đều nhấn mạnh một sự thật: Sức khỏe là rất quan trọng. 

Nên cũng chẳng có gì quá ngạc nhiên khi “Y học” ra đời vào thời đại tiền sử, trước cả khi con người phát minh ra chữ viết. Và trong hơn 17.000 năm hình thành và phát triển của mình, không thể kiểm điểm là đã có bao nhiêu quan điểm/triết lý/triết học về sức khỏe, bệnh tật. Nhưng chắc chắn một điều, Triết học và Y học có mối liên hệ mật thiết với nhau, ra đời và phát triển song hành cùng nhau trong hàng chục thế kỷ. 1

KHỞI NGUỒN 

Vào thời kỳ sơ khai, người ta tin rằng bệnh tật là hình phạt của thần linh đối với những hành vi sai trái hoặc là do các thế lực siêu nhiên như ma quỷ gây ra. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh điều gắn liền với các hoạt động tín ngưỡng như cầu khấn, bùa chú,... Đến khoảng thế kỷ 12 TCN, hệ thống kiến thức và triết lý về y học lần đầu được ghi nhận trong Kinh Vệ Đà của người Ấn Độ cổ nêu các phương pháp chữa bệnh bao gồm cầu khấn thần linh, sử dụng thảo dược và thay đổi chế độ ăn uống. 2

Đến khoảng thế kỷ thứ 4 TCN, nền y học bước sang một giai đoạn mới khi các thầy thuốc bắt đầu chú ý đến các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng sức khỏe, gây ra bệnh tật cũng như sự tìm hiểu và nghiên cứu về cơ thể người. 

Danh y Charaka Acharya (Sống vào khoảng thế kỷ thứ 4 TCN; Ấn Độ cổ) đã đưa ra một hệ thống kiến thức Y học và lối sống trong chuyên luận mang tên “Charaka Samhita”. Đây là một chuyên luận toàn diện về nhiều khía cạnh của y học, bao gồm sinh lý học, bệnh lý học, thảo dược, kỹ thuật phẫu thuật và việc sử dụng khoáng chất, kim loại trong y học. Cách tiếp cận y học của Charaka là toàn diện và tập trung vào việc hiểu cơ thể như một tổng thể. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự cân bằng giữa ba dosha: vata, pitta and kapha (tạm dịch là gió, lửa, đất - nước) và tin rằng bệnh tật là kết quả của sự mất cân bằng trong các dosha này. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng chính ông là người đầu tiên đề xuất học thuyết phòng bệnh hơn chữa bệnh: “Một bác sĩ không thể nhập vào cơ thể bệnh nhân bằng ngọn đèn tri thức và hiểu biết thì không bao giờ có thể chữa khỏi bệnh. Trước tiên, ông ta phải nghiên cứu tất cả các yếu tố, bao gồm cả môi trường, ảnh hưởng đến bệnh của bệnh nhân, sau đó mới kê đơn điều trị. Phòng ngừa bệnh phát sinh quan trọng hơn là tìm cách chữa bệnh”. 3

Tại vùng Lưỡng Hà, danh y Hippocrates (khoảng 460 - 370 TCN, Hy Lạp) người được biết đến như là “cha đẻ của y học phương Tây”, tác giả “Lời thề Hippocrates” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quan sát trực tiếp bệnh nhân, thu thập thông tin về triệu chứng, bệnh sử để đưa ra chẩn đoán và điều trị. Ông đã đặt nền móng cho phương pháp lâm sàng, một phương pháp vẫn được sử dụng rộng rãi trong y học hiện đại. Ông cũng tin tưởng vào quá trình lành bệnh tự nhiên thông qua nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng hợp lý, không khí trong lành và giữ vệ sinh sạch sẽ. Ông là thầy thuốc đầu tiên cho rằng tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm xuất phát từ não chứ không phải từ tim như nhiều người cùng thời quan niệm. Sau khi đi khắp Hy Lạp để hành nghề y, ông đã quay về đảo Cos để thành lập trường y, giảng dạy những tư tưởng y khoa, nổi bật là thuyết dịch thể: mật vàng, mật đen, đờm, máu và các đặc tính khô, nóng, ướt và lạnh. Ông cũng cho rằng bệnh tật khởi nguồn từ sự mất cân bằng 4 dịch thể này. 4 5

Một bản thảo Byzantine thế kỷ 12 về Lời thề Hippocrates

Khoảng 600 năm sau, danh y Galenus (129 – 200 hoặc 217, La Mã) cũng đã có những đóng góp nổi bật thông qua việc lý giải về giải phẫu (được thực hiện trên khỉ và động vật do việc giải phẫu người không được phép thực hiện vào thời đó) như hoạt động của tim, động mạch, tĩnh mạch. Ông đã thực hiện một số thí nghiệm thắt dây thần kinh để lý giải cho việc não điều khiển mọi chuyển động của cơ liên quan đến hệ thần kinh ngoại biên và sọ. Ông đã viết một tác phẩm mang tên “That the Best Physician is also a Philosopher” (Thầy thuốc giỏi cũng là một nhà triết học). Ông cũng kế thừa học thuyết dịch thể của danh y Hippocrates và phát triển thêm thuyết bốn loại tính khí: nhiệt tình, lạnh lùng, buồn bã, nóng giận. Và theo ông sự mất cân bằng của mỗi loại dịch được thúc đẩy bởi một loại tính khí tương ứng. Các học thuyết của ông đã chi phối và ảnh hưởng đến y học phương Tây trong hơn một thiên niên kỷ. 6 7

Tại Trung Quốc, danh y Hoa Đà (145 - 208) cùng nhiều danh y khác như Trương Trọng Cảnh, Lý Thời Trân đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền y học. Triết lý vào thời điểm đó là xem con người như một tiểu vũ trụ, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các quy luật tự nhiên như âm dương, ngũ hành. Bệnh tật được giải thích là do sự mất cân bằng giữa các yếu tố này bên trong cơ thể. Các tác phẩm kinh điển như Hoàng Đế Nội Kinh, Bản Thảo Cương Mục, Thương Hàn Luận và Nạn Kinh đã trở thành kim chỉ nam cho nhiều thế hệ thầy thuốc và cho đến tận ngày hôm nay. Bên cạnh đó, các phương pháp điều trị đa dạng như dùng thảo dược, châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật, dưỡng sinh cũng được phát triển và ứng dụng rộng rãi. 8

Trong khoảng 5 thế kỷ ấy, sự ra đời và góp phần phát triển ngành Y học của các danh y đã tạo nên hai truyền thống Triết lý y học nổi bật và đồng hành cùng nhau cho đến ngày nay: Triết lý y học phương Đông và Triết lý y học phương Tây.

Dù rằng cách tiếp cận, chẩn đoán, điều trị, phục hồi hay phòng bệnh là khác nhau, tên gọi hay nội dung của các triết lý cũng chưa có tính tương đồng như “dosha”, “âm dương - ngũ hành”, “Thuyết dịch thể”, “Thuyết bốn loại tính khí”. Nhưng có một yếu tố xuyên suốt hơn hơn 500 năm và trải dài hơn 5.000 km, đó là sự cân bằng. *

THAY THẾ

Vào khoảng thế kỷ 19, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, đặt biệt là sự ra đời và phổ biến của kính hiển vi đã mở ra một thế giới “vi sinh vật”, đặt nền tảng cho thuyết mầm bệnh. Các nhà khoa học như Louis Pasteur và Robert Koch đã chứng minh rằng nhiều bệnh tật do vi khuẩn gây ra, từ đó thúc đẩy việc tìm kiếm các phương pháp điều trị hiệu quả hơn như kháng sinh và vắc-xin. 9

Song song đó, sự phát triển của thống kê và các phương pháp phân tích số liệu đã giúp các nhà nghiên cứu y học đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị, đưa ra các kết luận và xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản của y học hiện đại. 10

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất đã đưa ngành y đi lên và phát triển như hiện nay lại là Thế chiến. Hai cuộc chiến tranh thế giới đã đưa nhân loại vào hết đau thương này đến đau thương khác. Trong những mất mát đó, đội ngũ bác sĩ, quân y đã ngày đêm cứu chữa từng người dân, quân nhân bị bệnh, bị thương tích. Hàng loạt phương pháp y học như ngân hàng máu, phẫu thuật hiện đại, sản xuất thuốc/vacxin ở quy mô lớn, điều trị vết thương chiến trường,... đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi, đặt nền móng cho những tiến bộ y học sau này. 11 12

Triết lý y học hiện đại (hay y học khoa học, y học phương Tây hiện đại) được hình thành dựa trên nền tảng của thực nghiệm, quan sát hệ thống, phân tích khoa học. Và dần thay thế các triết lý y học cũ vốn gắn liền với các phương pháp chẩn đoán và điều trị kém hiệu quả hơn hoặc được chứng minh là phản/giả khoa học. *

Trên một nền tảng triết lý mới, y học hiện đại đã có hướng đi và những bước tiến vượt bậc như phát triển trang thiết bị y tế hiện đại và các quy trình được chuẩn hóa, việc chẩn đoán và điều trị bệnh, kể cả bệnh nan y/phức tạp/cấp tính đã đạt được những kết quả cao. Y học hiện đại không chỉ giúp kéo dài tuổi thọ mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người. *

Tuy vậy, đến đầu thế kỷ 21, chính nền tảng của triết lý y học hiện đại, vốn dựa vào lý luận “thực nghiệm”, bắt đầu bộc lộ những hạn chế. Việc quá chú trọng vào các bằng chứng có thể đo lường được đã khiến ngành y gần như bỏ qua một số yếu tố quan trọng như ảnh hưởng của tâm lý, xã hội, môi trường hay văn hóa, tín ngưỡng,... đến quá trình hình thành và phục hồi bệnh. Điều này dẫn đến việc nhiều bệnh mãn tính, rối loạn tâm lý và các vấn đề sức khỏe liên quan đến lối sống vẫn chưa được điều trị một cách hiệu quả.

Và để giải quyết vấn đề, triết lý y học hiện đại đã quay về kế thừa và phát huy các triết lý y học cổ đại, hay còn được biết đến là “giải thích khoa học cho các lý luận y học cổ truyền”, nhằm tìm kiếm sự cân bằng giữa y học hiện đại và y học cổ truyền, tạo ra một phương pháp điều trị toàn diện, hiệu quả hơn. 13 14 15

Không dừng lại ở đó, dưới sự phát triển vượt bậc của khoa học và nhận thức về mối liên hệ sâu sắc giữa thân tâm, ngành Y học hiện đại cũng đã thừa nhận và từng bước ứng dụng các phương pháp y học thay thế bao gồm cả thiền định vào điều trị bệnh. Nổi bật, tại trường Y tế Công cộng T.H. Chan, Đại học Harvard đã mở Trung tâm Chánh niệm Thích Nhất Hạnh tập trung vào thúc đẩy các cách tiếp cận dựa trên nghiên cứu khoa học và thực chứng chánh niệm hướng đến để cải thiện sức khỏe mọi người và sức khỏe của cả thế giới. 16

Từ đây mà lý luận thực nghiệm không chỉ là điểm yếu mà còn là điểm mạnh trong việc liên tục đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị mới. Nhờ đó, y học ngày càng chứng minh được tính khoa học và hiệu quả của những phương pháp từng bị xem là “không chính thống”, mở ra những hướng đi mới trong việc chăm sóc sức khỏe một cách toàn diện. *

Y LÀ NƯƠNG TỰA

Quay về thời điểm cách đây hơn 2.500, đạo Bụt ra đời dưới sự hướng dẫn, giảng dạy của Đức Thế Tôn đã không chỉ mở ra con đường thoát khổ, đi về phía ánh sáng. Lời dạy của Bụt về tứ đại, tứ thực, duyên sinh, danh sắc,... còn góp phần hình thành nên một nền “triết lý y học” mà đến ngày nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị. 

Vào thời Bụt còn tại thế hay khi người đã nhập diệt, nương vào lời dạy của Người, trong Tăng thân đã sinh ra những danh y, thầy thuốc kiệt xuất. Như tại quê hương Việt Nam, Thiền sư Tuệ Tĩnh đã góp phần phát triển nền y học nước nhà qua triết giản đơn nhưng sâu sắc: “Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần, thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình” hay “Nam dược trị nam nhân (Cây cỏ nước nam điều trị người nam)”. 17

Lời dạy của Đức Thế Tôn không chỉ dừng lại ở điều trị bệnh cho thân, cho tâm mà còn cho cả đất mẹ. Bởi, mỗi một mảnh đất, con sông còn bị ô nhiễm là con người con phải gánh chịu những khổ đau mà bệnh tật mang đến, không chỉ cho mình mà con là bao thế hệ con cháu nối tiếp. *

Là gì, nếu dinh dưỡng không từ đất mà đến? Là gì, nếu cơ thể không nuôi dưỡng nhờ nước? Là gì, nếu sự sống này không mượn hơi thở từ đất trời? Và là gì, nếu sức khỏe không phải quay về với đời sống cân bằng, hài hòa?! *

Không chỉ thế, Đức Thế Tôn còn thương dạy bệnh đến từ những nghiệp xấu trong quá khứ. Mà nghiệp xấu là gì, nếu chẳng phải thân, khẩu và ý bị sai lầm?!. Đơn giản như thân thì tham thực, tham dục; khẩu thì bất hòa, ác độc; còn ý thì đầy hạt giống của tham đắm, sân giận, si mê. Và vì như thế, không sớm cũng muộn, duyên bệnh cũng sẽ ghé thăm. Ông bà ta cũng để lại kinh nghiệm ấy qua những câu nói bông đùa nhưng sâu sắc: “Buồn thúi ruột”, “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, “Ăn được ngủ được là tiên”, “Sạch sẽ là mẹ sức khỏe”, “Cơm có bữa, chợ có chiều”,... Hay “bệnh” chính là quả. Và rồi chúng ta chạy tìm cách sửa quả nhưng lại không chịu sửa nhân, gieo lại các nhân tốt, nhân lành cho mình, cho nhau và cho cả đất mẹ. *

Sau cùng, cốt lõi của Y là từ bi, là nương tựa, là sự chăm sóc lẫn nhau, là tính bầy đàn nguyên thủy và sự rung động trước khổ đau do bệnh tật và thương tích gây ra cho người khác như thể mình đang gánh chịu điều ấy. Và khi không có tình thương thì dù nắm trong tay thiết bị hiện đại có soi được rõ từng sợi thần kinh hay triết lý sâu sắc của đất trời rồi cũng lại sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn hại người, hại mình. *

Ngày 30 tháng 08 năm 2024


CHÚ THÍCH

^1. Trong hang Ba anh em (La Grotte des Trois Frères) người ta đã tìm được bức vẽ cách đây khoảng 17.000 năm mô tả một phù thủy đầu hươu đang chữa bệnh, đây được xem là bằng chứng sớm nhất về sự ra đời của ngành Y học.

^2. Ganga Ram. 1992. Encyclopaedia of the Hindu World (tập 1). Nhà xuất bản Concept Publishing Company. [↗]

^3. Charaka. 2024. Wikipedia tiếng Anh. [↗]

^4. Thúy Quỳnh. 2018. Bác sĩ đầu tiên trên thế giới và lời thề Hippocrates. Báo điện tử VnExpress. [↗]

^5. Traci Pedersen. 2023. What is the 'Hippocratic oath,' and who was Hippocrates?. Trang tin tức khoa học Live Science. [↗]

^6. Claudius Galenus - “Thần y” số một của đế chế La Mã. 2024. Báo điện tử Dân Việt. [↗]

^7. Tiến sĩ DW Ekstrand. 2012. The Four Human Temperaments

^8. Đông y. 2024. Wikipedia Tiếng Việt. [↗]

^9. Germ Theory. 2024. Bách khoa toàn thư Britannica. [↗]

^10. J Ezzo, B Bausell, D E Moerman, B Berman, V Hadhazy. 2001. Reviewing the reviews. How strong is the evidence? How clear are the conclusions?. Trang thông tin National Center for Biotechnology Information (NCBI). [↗]

^11. Phương Anh. 2016. 6 đột phá y học ra đời từ hai cuộc chiến tranh thế giới. Báo Thanh Niên. [↗]

^12. Zknight, Tom. 2018. Mạng sống đổi lấy những mạng sống: Sự phát triển của y tế trong lòng Thế chiến thứ nhất xảy ra như thế nào. Trang thông tin điện tử tổng hợp Genk. [↗]

^13. Tại sao nên kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại?. 2023. Website Trường Cao Đẳng Y Hà Nội. [↗]

^14. PGS. TS Chu Quốc Trường. 2024. Kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trong khám chữa bệnh: Xu hướng của thế kỷ 21. Website Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec. [↗]

^15. BS Denise Millstine. 2023. Y học cổ truyền Trung Quốc. Cẩm nang MSD - Phiên bản dành cho chuyên gia. [↗]

^16. Liz Mineo. 2023. “Happiness is not a destination … Happiness is the way”. Harvard Gazette. [↗]

^17. Nguyễn Hữu Mạnh. 2024. Di sản của Thiền sư Tuệ Tĩnh trong lịch sử y học dân tộc. Báo Lao Động. [↗]

Nhận xét

Mọi người cũng đọc

Tạo hóa thật là cao tay

Ổn định mới

Vòng vòng khắp chốn