Đập Vỡ Vỏ Hồ Đào - Bài 1: Không
Mấy tuần trước An có đến lớp để học môn Phương pháp nghiên cứu khoa học. Giảng sư của An có nhắc đến một số tác phẩm của Thầy, thiền sư Thích Nhất Hạnh. Và dù chưa đọc được nhiều sách của Thầy, nhưng tên các sách thì An cũng đã đọc qua kha khá. Tuy vậy, khi giảng sư nhắc đến Đập Vỡ Vỏ Hồ Đào, một tác phẩm luận giảng Trung Quán Luận của Ngài Long Thọ. An kiểu, ủa Thầy có tác phẩm này nữa cơ à?. Điều An ấn tượng và quyết phải đọc quyển này là vì giảng sư cho biết, Trung Quán Luận là bộ trong những bộ luận lớn và phức tạp nhất nhì trong tuệ giác đạo Bụt. Song vẫn được Thầy dạy lại, giảng lại một cách dễ hiểu, dễ tiếp chạm.
Về Bồ tát Long Thọ. Sư sống và hành đạo vào thế kỷ thứ 1 - thứ 2 (s.150 - m.250). Tên tiếng phạn của Sư là Nāgārjuna, phiên âm Na-già-át-thụ-na. Sư là một trong những luận sư vĩ đại nhất của lịch sử Phật giáo. Trong tranh tượng, Sư là vị duy nhất sau Bụt được vẽ với chóp trên đỉnh đầu (nhục kế). Suốt thời gian tu học và hành đạo, trung tâm tư tưởng hoằng pháp của Sư là “Tính Không” với công trình mang tên Trung Quán Luận cũng như việc sáng lập Trung Quán Tông.
![]() |
| Ngài Long Thọ (vị trí trung tâm) cùng với 30 trong số 84 vị Đại thành tựu (mahasiddha). |
Đến khi viết bài này, An đã đọc được 2 chương là Phẩm Nhân duyên và Phẩm Quán tứ đế. Và dù theo thứ tự, thì Nhân duyên rồi Quá khứ lai song mới đến Quán tứ đế. Tuy vậy, khi trộm đọc trước chương này An lại rất rất tâm đắc và muốn mượn phẩm này để mở đầu cho chuỗi bài viết.
Và trước tiên, thương mời bạn cùng An đọc qua phẩm Quán tứ đế:
1. Nếu tất cả đều không
Không sinh cũng không diệt
Như thế thì không có
Pháp bốn Thánh đế được
2. Vì không bốn Thánh đế
Việc thấy khổ dứt tập
Chứng diệt và tu đạo
Cũng đều là không có.
3. Vì các việc ấy không
Nên không có Bốn quả
Nếu không có Bốn quả
Thì Bốn hướng cũng không.
4. Tám Thánh Hiền nếu không
Thì không có Tăng bảo.
Nếu không có Tứ đế
Thì không có Pháp bảo.
5. Pháp bảo, Tăng bảo không,
Thì không có Phật bảo.
Cho nên chủ trương không,
Là phá hoại tam bảo.
6. Cái không phá nhân quả
Lại phá hoại tội phước
Mà cũng phá hoại hết
Các pháp của thế gian.
7. Bạn quả thực không hiểu
Không và nhân duyên không
Không hiểu được nghĩa không
Nên tự sinh ưu não.
8. Các Bụt nương hai đế,
Thuyết pháp cho chúng sanh:
Một là thế tục đế,
Hai là thắng nghĩa đế.
9. Nếu không phân biệt được
Hai thứ chân lý kia
Thì không thể hiểu được
Nghĩa thâm sâu của pháp.
10. Nếu không nương tục đế
Thì không đạt chân đế
Nếu không đạt chân đế.
Thì không chứng Niết bàn.
11. Không quán chiếu được không
Kẻ độn căn tự hại
Như không giỏi chú thuật
Không bắt được độc xà.
12. Thế tôn biết pháp này
Rất vi diệu sâu thẳm.
Kẻ độn căn khó hiểu,
Nên không thuyết cho họ.
13. Bạn nói tôi chấp không,
Cho rằng tôi lạc lầm.
Những cái lầm bạn nghĩ,
Không dính tới cái không.
14. Chính nhờ vào nghĩa không
Mà mọi pháp được thành.
Nếu mà không có không,
Chẳng pháp nào thành lập.
15. Những sai lầm của bạn,
Bạn lại bảo của tôi.
Cũng như kẻ cưỡi ngựa
Quên con ngựa mình cưỡi.
16. Nếu bạn thấy các pháp
Quyết định có tự tánh,
Là bạn cũng chủ trương
Không nhân cũng không duyên.
17. Bạn phủ định nhân quả
Tác, tác giả, tác pháp.
Lại cũng không công nhận
Sinh diệt của muôn loài.
18. Các pháp từ nhân duyên
Tôi gọi nó là không.
Nó cũng là giả danh,
Cũng gọi là trung đạo.
Đến đây, bạn có thể dừng lại và viết đôi dòng bình luận sau khi đọc qua phẩm này được cho An được biết không?. Có khó hiểu lắm không?! Và chắc cũng vì thế mà Đập Vỡ Vỏ Hồ Đào được đặt tên là Đập Vỡ Vỏ Hồ Đào. Như được chia sẻ trong lời tựa: “Hạt hồ đào (walnut) ăn rất ngon nhưng cái vỏ của nó rất cứng. Ở Tây phương người ta có chế ra một cái kẹp sắt, chỉ cần bóp mạnh cái kẹp thì vỏ hồ đào vỡ và ta có thể thưởng thức ngay hương vị thơm ngọt và bùi của hồ đào.”
Được rồi, giờ chúng ta cùng nhau kẹp cái vỏ của hạt hồ đào nào. Thật ra An cũng chưa ăn hạt hồ đào bao giờ.
Với phẩm này, An sẽ tạm chia phẩm thành 3 phần, trong đó từ bài kệ thứ nhất đến bài kệ số 7 là mở bài.
Không sinh cũng không diệt
Như thế thì không có
Do chúng ta chưa đọc qua phẩm Nhân duyên mà nhảy hẳn qua đây nên đôi khi cũng hơi x10 lần sự nhức đầu. Đoạn này chúng ta có thể tạm hiểu trong bối cảnh như sau: Có những vị, những người phê phán lời dạy của Ngài Long Thọ về “tính không” với lý lẽ rằng “Nếu tất cả (chúng ta, muôn loài, mọi vật, mọi sự kiện,...) đều là không (tính không) thì cũng không có luôn pháp Tứ thánh đế. Các bài kệ kế tiếp từ thứ 2 đến thứ 6 cũng cùng một lý lẽ và cho rằng Ngài Long Thọ chủ trương tính không là đồng nghĩa với không có Tứ thánh đế, Tứ quả, Tám Thánh Hiền, Pháp bảo, Tăng bảo, Phật bảo,... Tóm lại, các vị đây phê phán: “Cho nên chủ trương không. Là phá hoại tam bảo. Mà cũng phá hoại hết. Các pháp của thế gian.”
Đọc được đoạn này An cảm thấy rất là sướng. Bởi vì không chỉ trong thời đại của Sư, mà ngay đến ngày nay, trong chúng ta cũng còn có những người có sự hiểu lầm tương tự về “tính không”. Từ không trong tính không nên được hiểu là sự trống rỗng. Không phải là từ không trong cặp từ có - không. Sỡ dĩ śūnya được dịch là tính không thay vì sự trống rỗng là bởi vì tính không ở đây không phải sự trống rỗng thông thường mà nói về một thể tính vô biên vô hạn tuyệt đối (nghĩa là bao hàm tất cả); không thể dùng suy nghĩ, cảm nhận để đo lường.
Trong Bát-nhã tâm kinh, có đoạn viết:
"Nghe đây, Xá Lợi Tử :
Sắc chẳng khác gì không
Không chẳng khác gì sắc
Sắc chính thực là không
Không chính thực là sắc
Còn lại bốn uẩn kia
Cũng đều như vậy cả.
Xá Lợi Tử, nghe đây :
Thể mọi pháp đều không
Không sanh cũng không diệt
Không nhơ cũng không sạch
Không thêm cũng không bớt.
Cho nên trong tánh không
Không có sắc, thọ, tưởng
Cũng không có hành, thức
Không có nhãn, nhĩ, tỷ
Thiệt, thân, ý – sáu căn
Không có sắc, thanh, hương
Vị, xúc, pháp – sáu trần
Không có mười tám giới
Từ nhãn đến ý thức
Không hề có vô minh
Không có hết vô minh
Cho đến không lão tử
Cũng không hết lão tử
Không khổ, tập, diệt, đạo
Không trí cũng không đắc.
Vì không có sở đắc
Nên khi vị Bồ Tát
Nương diệu pháp Trí Ðộ
Bát Nhã Ba La Mật
Thì tâm không chướng ngại
Vì tâm không chướng ngại
Nên không có sợ hãi
Xa lìa mọi mộng tưởng
Xa lìa mọi điên đảo
Ðạt Niết Bàn tuyệt đối."
Đọc sơ qua chúng ta thấy rằng chủ thuyết chính của Bát-nhã tâm kinh cũng nói về tính không và cho rằng không hề có sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng hề có vô minh hay có hết vô minh. Điều này nghe qua như trái chống với lời của Bụt về sắc, thọ, tưởng, hành, thức hay về vô minh. Tuy vậy, câu cuối của tâm kinh cho ta biết rằng, chỉ với sự thấu suốt tính không này mà có thể đạt được Niết Bàn. Từ ấy mà suy ngược lại để thấy rằng “tính không” không hề dễ hiểu như ta tưởng và càng không phải đơn thuần chỉ sự trống rỗng hay nằm trong cặp trạng thái có - không.
Điều này cũng được Ngài Long Thọ chỉ dạy qua các câu kệ tiếp theo:
Không và nhân duyên không
Không hiểu được nghĩa không
Nên tự sinh ưu não.
Và từ bài kệ thứ 8 đến bài kệ thứ 13, Ngài Long Thọ đã chỉ rõ ra rằng những vị, những người đang phê phán “tính không” là chẳng hiểu gì về tính không (Những cái lầm bạn nghĩ, không dính tới cái không) cũng như chưa hiểu được lời dạy của Bụt.
Từ bài kệ thứ 14, Ngài Long Thọ bắt đầu kháng biện lại với các vị và những người ấy như sau: “Chính nhờ vào nghĩa không, mà mọi pháp được thành”. Hai câu này tuy đơn giản như lại đánh động cực mạnh vào biên kiến của mọi người. Sở dĩ các vị đây có ý phê phán tính không là vì cho rằng nếu có tính không thì mọi pháp đều không có, không thành. Nhưng Ngài Long Thọ lại chỉ ra rằng nhờ có tính không nên mọi pháp mới được thành. Điều này là tại vì sao?
Trong Đập Vỡ Vỏ Hồ Đào, Thầy Nhất Hạnh giảng giải: “Vạn vật không có cái gì, trống rỗng cái gì? Nó không có tự ngã, nó trống rỗng cái tự ngã. Nhờ không có tự tánh cho nên sự vật mới biểu hiện ra được. Nếu có tự tánh thì sự vật không vô thường, nó không vô thường thì nó không có sinh diệt. Ví dụ chúng ta gieo một hạt bắp vào trong đất. Nếu hạt bắp đó có tự tánh (own-being) thì hạt bắp vẫn mãi mãi là hạt bắp vì tự tánh là cái thường còn, cái không hủy diệt. Nhưng hạt bắp không có thường còn, nó hoại diệt, nhờ đó hạt bắp có thể nứt mầm trở thành cây bắp. Nhờ có cái “không có tự tánh” mà cây bắp có thể phát hiện được. Có tự tánh là có một thực chất không biến đổi. Nó luôn luôn là nó, nó không thể trở thành cái khác. Nói vạn vật có tự tánh thì không có vật nào có thể biểu hiện được. Nhờ vạn vật không có tự tánh cho nên tất cả vạn vật đều có thể biểu hiện ra được.”
Cũng trong bài kệ thứ 14 này: “Nếu mà không có (tính) không, chẳng pháp nào thành lập”. Và Thầy Nhất Hạnh cũng đã tán thán: “Đó là lời tuyên bố rất mầu nhiệm, rất dõng dạc, rất thần diệu của thầy Long Thọ”.
Các bài kệ từ thứ 15 đến thứ 17 cũng tái khẳng định lại đại ý trên. Và bài kệ thứ 18 cũng là bài kệ kết thúc phẩm, Ngài Long Thọ viết:
Tôi gọi nó là không.
Nó cũng là giả danh,
Cũng gọi là trung đạo.
Ý của đoạn kệ này là các pháp được sinh ra từ duyên (duyên sinh) và Ngài Long Thọ gọi đó là không hay là tính không. Không hay là tính không cũng chỉ là một cách gọi (giả danh), cũng có thể gọi điều đó là trung đạo. Điều này cho thấy để có cái hiểu về tính không, cần có cái hiểu về duyên sinh. Cũng vì thế mà Trung Quán Luận bắt đầu bằng Phẩm Nhân duyên.
Nên trong bài sau, chúng ta sẽ cùng nhau quay lại Phẩm Nhân duyên để cùng nhau tìm hiểu những lời dạy của Ngài Long Thọ cũng như của Thầy Nhất Hạnh về nhân duyên nha.
Cuối cùng, thương mời mọi người đọc lại tác phẩm Đập Vỡ Vỏ Hồ Đào [↗] để có cái nhìn sâu sắc và trọn vẹn hơn.
Ngày 18 tháng 01 năm 2025

Nhận xét
Đăng nhận xét
BIẾT ƠN BẠN